Nguyễn Đức
Thuần
Tuổi 80
29/11/1931 – 29/11/2010
20/10/Tân Mùi – 20/10 Canh Dần
Toàn tập
Tháng 11/2010
Lời nói đầu
Xưa
nay tuổi 80 là hiếm, nay cũng là tuổi cao, thế giới xếp vào diện người cao
tuổi, nhân kỷ niệm tròn 80 tuổi âm 29/11/1931
– 29/11/2010 (tức 20/10/ Tân Mùi – 24/10/ Canh Dần), trong lúc còn minh mẫn,
tôi muốn viết lại hồi ký để ôn lại quá khứ, tự hào việc đã làm, một niềm vui
của tuổi già bên cạnh các hoạt động xã hội, từ thiện, cũng là để lại tư liệu
hình ảnh cho con cháu sau này nghiên cứu khi cần thiết và cũng là mong ước con
cháu sẽ có cháu làm được và tốt hơn ông trong điều kiện mới.
Cuốn
hồi ký này viết theo từng giai đoạn chủ yếu, cố gắng sử dụng nhiều hình ảnh cho
sinh động cụ thể hơn nhất là những giai đoạn về sau có nhiều ảnh được lưu lại:
Gia Đình và thời thơ ấu:
Tôi
là Nguyễn Đức Thuần sinh ngày 29/11/1931 thuộc ngày 20/10 năm Tân Mùi giờ
Thìn (ngày Mậu Tí, tháng Kỷ Hợi, năm Tân
Mùi, giờ Bình Thìn mang mệnh Thổ, thân cư Tài, quẻ dịch cuộc đời là Thuỷ Hoả Ký
Tế, quẻ Biến là Thuỷ Sơn Kiển, quẻ Hỗ là Hoả Thuỷ Vị Tế. Phải chăng quẻ dịch đã
nói lên khi sinh ra đã kết thúc một giai đoạn đen tối của đất nước và đã bước
sang giai đoạn có Đảng lãnh đạo mà tượng
quẻ dịch Thuỷ Hoả Kỷ Tế đã nói lên “kết thúc giai đoạn” và cuộc đời sẽ cực kỳ
vất vả như Thuỷ Sơn Kiển theo kháng chiến chống thực dân Pháp chủ yếu sống ở
miền sông núi.)
Mẹ
đẻ là Ngô Thị Khuê sinh năm 1898 năm Mậu Tuất, Bố đẻ là Nguyễn Đức Uông sinh
năm 1900, năm Tân Sửu . Do Bố Mẹ bận làm ăn, sinh nhiều con, nên các con đều thuê
gửi người nuôi từ bé làm con nuôi. Tôi được Bổ Mẹ cho thuê “u nuôi” là Bà Ngõ ở
xóm chùa cho đến 4-5 tuổi thì đón về.
Năm 1955 về quê, chụp ảnh kỷ niệm với
gia đình nhà u nuôi
Hàng dưới là các con anh Ngõ và Bà Ngõ
ngồi bế cháu.
Bố
Nguyễn Đức Uông Mẹ
Ngô Thị Khuê
(1900 – 1962) (1898 - 1986)
Đại gia đình ngày 2 Tết năm Bính Tý 1936
Hàng phía trước: anh Nguyễn Đức Giản, chị Nguyễn
Thị Nhũ, Nguyễn Đức Mai con cô Hạm, Ông nội Nguyễn Đức Huyên, Bà nội Nguyễn Thị
Hảo, Nguyễn Phú Hồng con cô Hạm, chị Nguyễn Thị Nghi, Nguyễn Thị Mạch con chú
Lãng, anh Nguyễn Đức Nhu
Trên
tôi có anh Nguyễn Đức Bát sinh năm 1920, tuổi Canh Thân, chị Nguyễn Thị Nhũ
sinh năm 1926, tuổi Bính Dần, chị Nguyễn Thị Nghi sinh năm 1927, tuổi Đinh Mão,
anh Nguyễn Đức Nhu sinh năm 1929, tuổi Kỷ Tỵ, anh nguyễn Đức Giản sinh năm
1930, tuổi Canh Ngọ. Dưới tôi có 2 em gái là Nguyễn Thị Hựu sinh năm 1937 tuổi
Đinh Sửu và Nguyễn Thị Đà sinh năm 1938 tuổi Mậu Dần. Khi viết hồi ký này thì 4
anh chị đã mất là Nguyễn Đức Bát, Nguyễn Thị Nhũ, Nguyễn Thị Nghi và Nguyễn Đức
Giản, hiện chỉ còn một anh Nguyễn Đức Nhu và 2 em gái Nguyễn thị Hựu và Nguyễn
Thị Đà.
Ảnh chụp năm 1936
Hồi bé đi học ở trường làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn
tỉnh Bắc Ninh: Qua lớp vỡ lòng, vào học lớp Elementaire, Preparatoire, rồi lên lớp Moyen I, tiếp lên Moyen II rồi lên lớp Superieure. Trừ lớp vỡ lòng, còn
các lớp chủ yếu học bằng tiếng Pháp, từ lớp Moyen I trở lên đã phải làm luận
văn bằng tiếng Pháp, mỗi tuần chỉ còn 2 giờ học chữ hán. Đang học lớp
Superieure thì Nhật đảo chính Pháp rồi lên tỉnh thi tốt nghiệp bằng sơ học yếu
lược (certificat primaire superieure), coi như xong cấp I hiện nay và không còn
trường lớp để học tiếp ở địa phương nữa. Tất cả đều thôi học, muốn học lên phải
ra Hà Nội xin thi tuyển sinh.vào trung học đệ nhất cấp. Như mọi người, tôi cũng
thôi học và giúp gia đình chăn trâu, cắt cỏ.
Ấn
tượng thời thơ ấu đi học có việc tham gia “sói con” hoạt động đi cắm trại, đốt lửa
trại, hát múa và đi tìm đường theo ký hiệu được học. Nó có giúp cho ý thức tập
thể cộng đồng và buộc phải tháo vát nhanh nhẹn tinh khôn hơn trong cuộc sống xa
gia đình.
Ấn
tượng thứ 2 là đi canh gác cho Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam họp trong làng
mà sau này tôi mới biết là mình làm nhiệm vụ vừa chơi mà canh gác vòng ngoài,
thấy có người lạ vào làng thì mật báo ngay cho các anh thanh niên biết.
Ấn
tượng thứ 3 là tôi có nhiệm vụ kèm các em Nguyễn Thị Hựu, Nguyễn thị Đà và cháu
con anh cả Nguyễn Phi Loan, Nguyễn Phi Phượng học môn toán tạo cho mình đầu óc
độc lập suy nghĩ và tìm cách dạy sao cho tốt. Còn tôi lại được ảnh cả kèm day
tiếng Pháp, làm các bài luận văn bằng tiếng Pháp.
Ấn tượng thứ 4 là mặc dù học tiếng Pháp, lại hàng
tuần chào cờ Tam Tài của Pháp, hát ca ngợi thống chế Pê tanh, được học tổ tiên
mình là người Gô Loa nhưng vẫn biết mình là người Việt Nam bị Pháp cai trị nên
đón không khí cách mạng tự giác và dễ dàng.
Sau
cách mạng tháng 8 năm 1945 tôi tham gia đội thiếu niên tiền phong, làm đại đội
phó, vui mừng đón cách mạng Việt Nam, mừng nước mình được độc lập.
Thời
kỳ này có vài ấn tượng sâu sắc:
Đi bộ 18Km ra Hà Nội dự
ngày 2/9/1945.
Tôi
quê ở làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội gần 18 Km. Sau
cách mạng tháng Tám năm 1945, cũng như bao thiếu niên khác trong làng, chúng
tôi tham gia đội thiếu niên tiền phong học ca hát các bài ca cách mạng, học
quốc ca, thường luyện tập quân sự, say mê đón và hưởng ứng các hoạt động của
một vùng quê giầu truyền thống cách mạng, nơi đã được chọn địa điểm bí mật mở
hội nghị trung ương Đảng bàn ra nghị quyết “Nhật Pháp đánh nhau, hành động của
chúng ta”.
Tối
hôm 1/9/1945 nhóm thiếu niên chúng tôi bàn kế hoạch ngày mai rủ nhau ra Hà Nội
chứng kiến ngày Bác Hồ công bố Độc lập “đầy háo hức và quyết tâm của lứa tuổi
thiếu niên” đón chào cách mạng.
Ngủ
không yên, hơn 3 giờ sáng ngày 2/9/1945 tôi đã tỉnh giấc, tự lo ăn cơm nguội đã
chuẩn bị từ chiều tối hôm trước rồi ăn mặc gọn gàng, đội mũ chào mào làm bằng
giấy tốt, ra cổng làng theo hẹn để 4 giờ sáng xuất phát đi bộ ra Hà Nội với
mong muốn là đến Hà Nội khoàng 8 giờ 30 phút, kịp dự đại lễ ngày tuyên bố Độc
lập lich sử trọng đại khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Chúng
tôi hăng hái đi một mạch qua Cầu Đuống trời mới sáng tỏ mặt người, đi tiếp qua
cầu Long Biên rồi qua chợ Đồng Xuân đi về phía Hàng Đào hướng tới Bờ Hồ.
Lần
đầu tiên chúng tôi tự tổ chức đi bộ ra Hà Nội, rất vui, không biết mỏi, lại
luôn được chứng kiến những tốp thiếu niên chỉnh tề thẳng hàng đi đều bước hô
vang một hai một, thỉnh thoảng lại đứng nghiêm giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng
tung bay, hát bài quốc ca : “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc. Bước
chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa. Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước
v.v. Tiến lên cùng thét lên, nước non Việt
Nam
ta vững bền”. Chúng tôi cũng dừng lại, hướng về phía đoàn thiếu niên, hướng về
ngọn cờ cùng nhẩm hát theo, lòng đầy tự hào khí thế hừng hực cùng người dân Thủ
đô đón mừng ngày độc lập lịch sử đầu tiên mà mình được hưởng. Nhiều lần chứng
kiến cảnh này mà chúng tôi vẫn vui, vẫn đứng nghiêm chào cờ cùng các tốp thiếu
niên khác nhau như vậy. Xung quanh, khắp nơi, các nhà đều đầy cờ đỏ sao vàng,
tràn ngập không khí cách mạng, tự hào là người dân nước Việt Nam độc lập ở mọi
phố phường mà tuổi thiếu niên chúng tôi đi qua, cảm nhận khắc sâu vào tâm trí,
đầy ấn tượng không bao giờ quên.
Do
chúng tôi đi tự do, không thể đến gần khu vực vườn hoa Ba Đình đã đầy người
hàng ngũ chỉnh tề, hàng chục vạn người Việt Nam có mặt trong cuộc mít tinh vĩ
đại, ăn mặc quần áo đẹp, tràn ngập cờ hoa chứng kiến giờ phút lịch sử thiêng
liêng của dân tộc. Chúng tôi chỉ đứng từ xa ngó nhìn lễ đài và trân trọng, chăm
chú lắng nghe: Chính phủ cách mạng lâm thời ra mắt quốc dân. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Lời thề độc
lập vang rền sông núi “Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam xin thề:
Cùng chính phủ giữ gìn nền độc lập hoàn toàn cho tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm
lược, dù có phải hy sinh cũng cam lòng”. Chúng tôi cũng hô vang cùng mọi người
. . Xin thề, Xin thề.
Ôi!
Vui sướng quá, đất nước bước vào kỷ nguyên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Ôi! Hà
Nội nhận vinh dự và trách nhiệm làm Thủ đô cách mạng. Chúng tôi nói với nhau:
nước mình được độc lập rồi và chứng kiến người khắp nơi như mình kéo về Hà Nội
hớn hở, tự hào đâu có thấy mệt dù đi bộ từ xa. từ tờ mờ sáng đến đây hoà cùng
niềm vui, niềm tự hào của người Hà Nội.
Sau
buổi mit tinh trọng thể Nhà nước tuyên bố độc lập, chúng tôi lai rủ nhau ra về,
tuy có cảm thấy mệt đói nhưng rất vui, tuy mới ở tuổi thiếu niên mà cảm thấy
mình đã lớn, là người dân của nước Việt Nam độc lập, thấy Thủ Đô cũng là của
mình và mơ ước được ra Hà Nội học tiếp để sẽ làm được việc gì đó cho Thủ Đô,
cho đất nước.
Ấn
tượng này về ngày độc lập đầu tiên của đất nước, ấn tượng này về niềm vui của
nhân dân Thủ Đô khắc sâu mãi trong tâm trí của tôi cũng như các bạn thiếu niên
cùng đi bộ ra Hà Nội ngày ấy. Nay gặp nhau vẫn nhắc lại kỷ niệm này.
Nguyễn Đức Thuần
5/2009
Bài viết dự thi Hà Nội trong tôi 2009-2010

Chúng tôi chỉ đứng từ xa hướng nhìn về
phía lễ đài tuyên bố Độc Lập
Ngày 2/9/1945 tại khu vực vườn hoa Ba
Đình lịch sử.
Ra Hà Nội học năm 1946, tôi trở thành người Hà Nội.
(Báo KTĐT đăng ngày 26/1/2010)
Ở
Làng Đình Bảng chỉ có trường “tiểu học” 6 năm, học xong là đại bộ phận học sinh
trường này nghỉ học về nhà làm ruộng hoặc làm việc gì khác. Tôi cũng nằm trong
những người này, về chăn trâu, cắt cỏ giúp gia đình.
Cuối
năm 1945 làng Đình Bảng có thêm không khí cách mạng mới: toàn dân chuẩn bị đón
kỳ họp quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà dự định họp tại
Đình làng: khắp nơi sửa sang, mắc điện các trục đường chính, mắc điện vào tới
từng gia đình nhận đón đại biểu quốc hội đến ăn ở. Do tình hình còn có thể họp
quốc hội khoá I tại Nhà Hát lớn nên đầu năm 1946 Bác Hồ có về thăm dân làng
Đỉnh Bảng, cám ơn nhân dân đã chuẩn bị đón tiếp quốc hội họp. Sau khi Bác đi
thăm người già nhất làng, Bác có nói chuyện với dân làng. Tôi chỉ nhớ khi Bác
nói với thiếu niên nhi đồng ngồi phia trên là: các cháu cần đi học, nước nhà
được độc lập rồi, rất cần các cháu học tập tiếp để sau này phụng sự đất nước.
Chúng tôi đồng thanh trả lời : vâng ạ!. Sau đó chú Lê Quang Đạo nói với bố mẹ
tôi: Cháu Thuần còn nhỏ, anh chị nên cho cháu ra Hà Nội học tiếp. Thế là tôi
được ra Hà Nội ở nhà người cô ruột số nhà 22 Hàng Đào để đến học ở trường Phan
Chu Trinh, trường của Mặt trận Việt Minh đỡ đầu, ở phố Nguyễn Thái Học hiện
nay. (cùng nhóm quen thân, họ hàng với nhau có Hồng, Mai, Thuần, Phát, Lực sau
này là Bác sĩ Hồng, Lực, Phát)
Thế
là tôi đã trở thành người Hà Nội từ năm 1946, hàng ngày đi tầu điện đến trường.
So với hồi học trường tiểu học, tôi thấy có nhiều môn học mới như môn Vật lý
mới lạ, môn toán đại số mới tinh, lại được học tiếng Anh, học Nhạc v.v., khơi
dậy trong tôi sự ham học nhiều điều mới.
Một
hôm trong lớp học chuyên học nhạc, lớp tôi may mắn được Bác Hồ trực tiếp đến
thăm giờ học nhạc này. Vui mừng phấn khởi sau khi nghe Bác khuyên bảo chúng tôi
hát vang bài ca trường như tự hứa với Bác: “ Trường Phan Chu Trinh là nơi chung
sức đua tài, rồi ra mai sau, đắp xây nước non Việt Nam. Học sinh trường ta ngày nay,
là dân Việt Nam ngày mai,
Xây nước Việt Nam
hùng cường. Học sinh trường ta ngày nay là dân Việt Nam ngày mai, đắp xây nước non
nhà.,.”. Nay nhìn lại thấy ấn tượng sâu sắc này đã tiếp sức chúng tôi đã làm
được như vậy, xứng đáng là người dân Thủ Đô.
Bắt
đầu là người dân Hà Nội, người dân Thủ đô ở tuổi thiếu niên, tuổi học trò, tôi
cũng cảm nhận nhiều điều, vẫn nhớ tiếng tầu điện leng keng thuận tiện khi đi
học, đi chơi, vẫn nhớ những gánh hàng dong duyên dáng lịch thiệp sạch sẽ mà gọn
gàng hàng sáng hoặc buổi trưa đến phố Hàng Đào trước từng nhà thuận tiện chọn
bữa ăn là phở gánh, là xôi các loại, là bánh cuốn nóng, là bánh mì nóng ròn pa
tê, là bánh bao nóng nhân thịt v.v. và v.v. Trên tầu điện, trên vỉa hè đi lại,
ra chợ v.v., đâu đâu cũng thấy người Hà Nội văn minh thành lịch sẵn sàng giúp
đỡ mọi người lạ hỏi thăm đường, chỉ dẫn đến nơi đến chốn.
Đang
học yên vui, tháng 10/1946 Bác Hồ sau khi ký tạm ước 14/9 ở bên Pháp trở về thì
Pháp đã trở mặt. Ta càng thiện chí, chúng càng lấn tới. Giặc Pháp nổ súng chiếm
Hải Phòng, tấn công Lạng Sơn, khiêu khích gây sự ở Hà Nội và trường học của
chúng tôi tháng 11 năm 1946 đã phải tạm ngừng học, không còn cách nào khác là
cầm súng đánh giặc.
Tôi
chứng kiến cảnh đục tường liên thông nhiều nhà và mọi người mang chướng ngại
vật ra đường phố để cản trở sự tiến công của giặc, các đội quân được thành lập
tập luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Vì còn ít tuổi, tôi được vận động
về Bắc Ninh tạm sơ tán lo tiếp tục học tập phục vụ kháng chiến lâu dài.
Ở
vùng kháng chiến, đã là người ở Thủ đô, tôi vẫn
tìm nghe tin tức Hà Nội, tự hào quân dân thủ đô chiến đấu “Quyết tử cho
tổ quốc quyết sinh” gian khổ dũng cảm giành từng căn nhà góc phố, ghìm chân
địch được 60 ngày đêm vượt xa dự kiến để chính phủ lo sơ tán cùng toàn dân,
toàn quân chuẩn bị cuộc trường kỳ kháng
chiến nhưng nhất định thắng lợi.

Tôi còn ít tuổi nên không được tham gia cùng các anh thanh niên nhiệt
tình hăng hái tự nguyện gia nhập vào các đội quân tập luyện sẵn sàng bảo vệ Thủ
đô hay như các chị tham gia nữ tự vệ chiến đấu mà chúng tôi được chứng kiến,
một trong những ấn tượng sâu sắc về người Hà Nội thời khắc lịch sử này, tiêu
biểu cho dân tộc Việt Nam, bảo vệ bằng được nền độc lập còn non trẻ này.
Ấn tượng này tiếp sức cho tôi noi theo để vượt mọi khó khăn hoàn thành mọi nhiệm vụ trong
vùng kháng chiến tại chiến khu Việt Bắc.
Bài
viết dự thi Hà Nội trong tôi 2009-2010

Nhớ phố Hàng Đào,nơi ở đầu tiên ở Hà Nội,
hàng ngày đi học bằng tầu điện
Làng
Đình Bảng tổ chức thành làng chiến đấu, đào đường giao thông hào, đắp nhiều ụ
chiến đấu, các đội tự vệ cứu thương được thành lập tập luyện. canh gác từ ngoài
Dốc Lã và quanh luỹ tre làng sẵn sàng chặn đánh giặc bảo vệ xóm làng.
Đầu năm 1947, sau khi quân ta 60 ngày đêm “quyết tử
cho tổ quốc quyết sinh” bảo vệ Thủ Đô kìm chân giặc rồi rút ra vùng kháng chiến,
quân Pháp mở đợt tiến quân về Bắc Ninh và bị quân dân Đình Bảng chặn đứng phải
rút lui, có vài người hy sinh.
Chúng tôi được vận động đi sơ tán và lên làng Me,
Hoa Mạc sinh sống ở nhà cụ Cửu Hanh, rồi
học tập ở lớp tư nhân cùng Đàm Trung Đồn, Đàm Trung Canh, Đàm Trung Giai, Nguyễn
Đức Thuần do anh Đàm Trung Thiện kèm cặp các môn, chủ yếu là môn toán và Vật Lý,
Hoá học sau đó vào học trường tư thục Hoàng Hữu Nam hệ Trung học đệ nhất cấp. mở
ngay tại xã này.
Chúng tôi lập nhóm ham học được sự kèm cặp của anh Đàm
Trung Thiện, Đàm Trung Bảo, Đàm Trung Kiên học theo chương trình, gần như mỗi năm
học xong 2 lớp và sau 2 năm xin thi tự do thí sinh kỳ thi thứ 2 năm 1949, thi tất
cả các môn, qua kỳ thi viết sẽ vào kỳ thi vấn đáp cũng tất cả các môn. Nhóm chúng
tôi chỉ có Tôi và Đàm Trung Đồn đã tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp rồi vào học
trung học chuyên khoa tại trường Trung học Hàn Thuyên, lớp anh cả của trường học
tại Đình làng Vân thuộc tỉnh Bắc Giang.
Giặc Pháp mở rộng chiến tranh (tôi còn cõng ông nội
tôi chạy giặc Pháp đi cùng anh cả Bát và Bố thời đó). Trường phải đóng cửa và một
nhóm chúng tôi chuyển lên Đào Giã Phú Thọ học tiếp theo hệ cao đẳng sư phạm

Ảnh chụp 4 anh em trai năm 1947 tại làng
Me, Hoa Mạc: Anh hai Nguyễn đức Nhu, anh ba Nguyễn Đức Giản, anh cả Nguyễn Đức
Bát và Nguyễn Đớc Thuần tính từ trái sang phải
Thời kỳ học chuyên ngành sư phạm:
Từ năm 1950: Tôi được vận động lên
Đào Giã Phú Thọ vào học Cao Đẳng Sư Phạm để đào tạo giáo viên và có học bổng ăn
học, coi như học năm thứ 2 trung học chuyên khoa nối tiếp lớp học cũ ở trường
Hàn Thuyên bị đóng cửa do giặc Pháp mở rộng chiến tranh. Đây là mở đầu cho
giai đoạn vừa học lên và học nghề dạy học.

Các Bạn học ở Đào Giã Phú Thọ năm 1950
Thuần đứng thứ 6 từ bên trái sang bên phải
Chỉ còn nhớ đứng thứ 3 là Thuỷ Hà, rồi
Thịnh, Quỳnh, Thuần, Điều,
Ngồi thứ 2 là Lê An, thứ 4 là Trâm, rồi
đến Phương.
Mùa
hè năm 1950 tôi trở về Thái Nguyên ở nhà Cô Đồ Đước ( con gái ô Tổng Ái) dạy học
hè cho các con của cô và người quen của cô: dạy toán, văn, anh văn là chủ yếu,
cũng là cách tự nuôi sống trong dịp hè không có học bổng Sư phạm
Khi giặc Pháp tiếp tục mở rộng
địa bàn chiếm đóng, chúng tôi lại chuyển lên Chợ Ngọc ở Tuyên Quang để học tập
lúc đó gọi là lớp 9, lớp cao nhất trường, lấy địa điểm của trại lính Âu Phi, trại
tù binh Pháp để cùng nhau lao động tu sửa làm thành ký túc xá , lớp học: chúng
tôi vào rừng lấy nguyên vật liệu về tự đóng giường ngủ, bàn ghế học, bàn ăn. Tại
đây tôi tham gia hiệu đoàn học sinh phụ trách quản lý kiểm tra việc lo ăn uống
hàng ngày, thực chất chỉ là kiểm tra lo gạo ăn hàng ngày và hàng tuần hoặc 2 tuần
một lần tổ chức mổ trâu chia nhau cải thiện cuộc sống, còn thương xuyên chỉ là
cơm ăn lửng dạ với canh bí đỏ. Ai ăn khoẻ thường cảm thấy còn đói và vào bản làng
mua hay xin sắn nướng ăn thêm hoặc vào rừng hái dâu gia “bồi dưỡng thêm vi ta
min” chẳng hạn. Cuộc sống tập thể có cây đàn ghi ta truyền nhau học ca hát giải
trí. Bạn học có Sơn, Minh, Mạnh, Tùng, Thúc, Lê An. Mai Bình, Phú, Tân, Mạnh
Giao, Huy Giao, Thịnh, Thuỷ Hà, Phương, Nữ có Hồng, Trâm, Tỉnh, Vân, Hằng, Phượng,
Kiều Nga, Dung (hình như Thuỷ Hà, Phương, Hằng chỉ học ở Đào Dã thôi?)
Tại khu rừng Chợ Ngọc, năm
1951, tôi được tổ chức làm lễ kết nạp vào đoàn thanh niên cứu quốc còn hoạt động
bí mật, anh Hoàn làm bí thư
Năm 1951 khi giải phóng biên
giới, tôi được mời tham gia làm kế toán tại hang Bắc Sơn phục vụ tổ chức cho các
đoàn lần lượt đến tập trung học tập, chuẩn bị hành quân đi bộ qua cửa khẩu sang
biên giới Trung Quốc. Do đó tôi đi chuyến cuối cùng qua biên giới rồi được xe tải
chở đi qua Ninh Giang tạm nghỉ được ăn uống bồi dưỡng rất tốt, rồi hôm sau đi
tiếp đến Tâm Hư, một nơi thuộc nông thôn, tạm dựng nhà, buồng lớp làm thành Khu
Học Xá tạm thời, Mỗi người được phát 2 bộ quần áo, giầy, tất, chăn màn, dùng nước
ao đánh phèn cho trong, sạch. Tại đây, mọi người học chính trị kiểu chỉnh huấn để
chống chủ nghĩa cá nhân tiểu tư sản và xác định trách nhiệm học tập về phục vụ
kháng chiến thông qua dạy học ở bất kỳ nơi nào có nhu cầu vùng tự do cũng như vùng
địch hậu.
Vì cải cách giáo dục chuyển
sang hệ chín năm phổ thông mà chúng tôi đã học xong lớp chuyên khoa 2 nên không
còn lớp 10 nữa và do nhu cầu thiếu giáo viên nên một số trong lớp chúng tôi được
vào học lớp đặc biệt để về nước phục vụ, một số có quyết định bổ nhiệm
từ ngày 1 tháng 2 năm 1952, là học viên lớp 10 ra làm giáo sinh giảng dạy tại
các lớp sư phạm sơ cấp ngay tại khu học xá ở Tâm Hư bao gồm: Thuần, Tùng, Vân,
Tiệp, Hồng dạy các môn tự nhiên; Tình, Dung, Trâm, Lê An, Tân dạy các môn xã hội
dù cùng học một lớp nhưng có xu hướng khác nhau.
Sau đây là vài bài viết dự
thi về giáo dục gọi là Ước vọng giáo dục tập I:
Bài I. Có một cách dạy học như thế
ở trường tư thục Hoàng
Hữu Nam .
Năm học 1947-1948 tôi “sơ tán” ở Làng Me, Làng Hoa Mạc thuộc tình Bắc Ninh và học tại
trường tư thục Hoàng hữu Nam. Cùng học với tôi có nhiều người ham học, trong đó
có Đàm Trung Đồn. Các thầy dạy học thời đó chúng tôi đều gọi là anh vì các thầy
còn trẻ lại rất tận tâm đáp ứng mọi việc học tập theo nhu cầu và khả năng của
những nhóm người khác nhau. Tôi thuộc nhóm những người học nhanh nên được hướng
dẫn học đặc biệt kiểu học theo nội dung chương trình các môn học, không phụ
thuộc vào niên học nên cuối cùng sau 2 năm chúng tôi được hướng dẫn học xong
chương trình học của cả 4 năm trung học rồi tổng ôn tập xin tham dự kỳ thi tốt
nghiệp phổ thông trung học kỳ 2 năm 1949 với danh nghĩa là “tự do thí sinh” có sự chứng nhận của các thầy đã dạy là được phép dự
thi. Lúc đó phải qua kỳ thi viết nhiều môn như văn, toán, vật lý, sinh vật
v.v.. Ai đạt kết quả qua kỳ thi viết sẽ còn phải qua kỳ thi vấn đáp tất cả các
môn, từ môn Văn, Toán, đến các môn khác như ngoại ngữ Anh, Pháp, lịch sử, địa
lý đến cả môn công dân giáo dục. Nhóm chúng tôi chỉ có 2 người thi đỗ, trong đó
có tôi. Sau đó tôi lại tiếp tục vào học lớp đệ nhất chuyên khoa ở Trường Hàn
Thuyên sơ tán tại Làng Vân Bắc Giang .
Nhìn
lại cách học, cách thi thời đó tôi thấy có cái hay là “coi trọng chất lượng thực chất”, không bắt học tuân thủ theo “niên chế”
mỗi năm một lớp, chủ yếu chỉ yêu cầu học xong đầy đủ chương trình cả 4 năm học
phổ thông, dù nhóm chúng tôi chỉ học trong hơn 2 năm, thực tế học xong trong 2
năm sau đó tổng ôn tập để dự thi kỳ thứ 2 tốt nghiệp phổ thông trung học. Khi
thi lại coi trọng cả thi viết lẫn thi vấn đáp và thi vấn đáp tất cả các môn học
để đảm bảo chất lượng. Nhớ lại thời xưa nước ta cũng đã từng có Tiến sĩ trẻ
tuổi, thậm chí mới 13 tuổi như Trạng Nguyên Nguyễn Hiền thì sao? Phải chăng đây
mới là cách dạy, cách học tuỳ khả năng mỗi người, không cứng nhắc học theo niên
chế? Có thể không phổ biến nhưng trong quản lý chỉ đạo lại không hạn chế?. Có
lẽ đây cũng là một “ước vọng” mà tôi đặt ra đối với giáo dục nước nhà cho các
đổi tượng có khả năng mà không bị hạn chế ràng buộc? Chúng ta mới áp dụng học
theo “chứng chỉ môn học” ở một số nơi mà thôi? Có thể mở rộng được không tuy
có phức tạp về tổ chức?. Thiết nghĩ nên làm:
“Hãy coi trọng hướng dẫn tự học”, “hãy coi trọng khả năng học tập khác
nhau rất đa dạng của nhiều người mà đáp ứng?” “Quan trọng là đảm bảo chất lượng
thực chất, không bị khống chế bởi năm học?”. Thời đại hiện nay, khoa học công nghệ thông tin hiện đại phát triển
mạnh với tốc độ cực nhanh hoàn toàn có thể thực hiện được “ước vọng”
này trong đổi mới, trong cải cách giáo dục.
Nguyễn Đức Thuần
5/4/2009
(Trích bài viết trong tác phẩm ước vọng
I dự thi viết về giáo dục)
Bài II. Ấn tượng sâu sắc
về
thầy giáo toán Ngô Thúc Lanh
.
Năm
học 1950-1951 tôi học lớp 9 trường Sư Phạm Chợ Ngọc Tuyên Quang. Lúc đó chúng
tôi đều gọi thầy giáo là anh: Anh Lanh, giáo viên chủ nhiệm lớp chúng tôi và
trực tiếp dạy môn Toán. Tôi thuộc loại học tốt về môn toán và thường “bị”
bạn bè nói là thằng này có cái “Boss Mathematique” (cái bướu Toán học).
Thường
tôi làm bài nhanh, xong sớm, được thầy khen, nhưng điều mà tôi giữ được ấn
tượng sâu sắc lại là điều thầy nhắc phải yêu cầu cao hơn như “Bài này có còn những cách giải nào khác
không?”. Từ đó khi làm xong bài, tôi lại
tiếp tục suy nghĩ và đưa ra cách giải 2 thậm chí cách giải 3. Thầy khen nhưng
lại yêu cầu cao hơn nữa: “Trong
các cách giải này, cách nào là hay nhất?”. Thế là trong các giờ làm bài tập, tôi luôn phải nghĩ các cách giải
khác, xong lại phải nhận xét xem cách giải nào là hay nhất, không bao giờ thoả
mãn với một cách giải đầu tiên, tận dụng hết giờ làm bài, không bao giờ nộp bài
trước dù làm xong rồi.
Trong
cuộc đời dạy học và tự học không ngừng, tôi thấy đây là “ấn tượng sâu sắc nhất” về thầy giáo Ngô Thúc Lanh về “yêu cầu học và cách học” để luôn sáng tạo trong học tập..
Không
ngừng tự học để dạy tốt, luôn coi trọng hướng dẫn học sinh biết cách tự học
theo sách và tự học trong thực tiễn là điều tôi học được của thầy giáo toán Ngô
Thúc Lanh.
Theo
hướng dẫn đó trong công việc chỉ đạo quản lý giáo dục & đào tạo sau này tôi
luôn nghĩ đến nhiều phương án làm khác nhau và cân nhắc chọn phương án nào hay
nhất, phù hợp nhất.
Thiết
nghĩ để đạt được mục tiêu giáo dục con người mới, con người làm chủ đất nước,
cần và rất cần có nhiều người thầy như Thầy Ngô Thúc Lanh có cách dạy học “gõ vào trí thông minh” để trò động não suy nghĩ chủ động trong cách tự học
để “tự học suốt đời”. Phải chăng đây là “ước vọng” trong định hướng cải cách giáo dục nói chung và cải
cách sư phạm đào tạo bồi dưỡng giáo viên nói riêng:
“Hãy dạy cách động não”; “Hãy dạy cách sáng tạo”; “Hãy dạy cách tìm ra
giải pháp tổi ưu” v.v., nó rất cần và đặc biệt cần trong đào tạo con người mới
mà cải cách giáo dục cần hướng tới ở mọi cấp học, đặc biệt trong đào tạo và bồi
dướng giáo viên cũng như đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.
Nguyễn Đức Thuần
5/4/2009
(Trích bài viết trong tác phẩm ước vọng I
dự thi viết về giáo dục)

Thầy giáo Ngô Thúc Lanh NGND ngồi thứ 2 tuổi 90

Bài III.
Học cách học
thực hành của thầy Nguyễn Văn Chiển
Học
tập trong thời kỳ “trường kỳ kháng
chiến nhất định thắng lợi” của nước ta
chống thực dân Pháp quả là có nhiều khó khăn, thời gian học tập không ổn định
vì còn phải lo nhiều chuyện khác. Giờ lên lớp thường thiếu, thấy chủ yếu hướng
dẫn tự học. Tôi nhớ nhất giờ thầy giáo Nguyễn Văn Chiển hiệu trưởng nhà trường
Sư Phạm giới thiệu về môn địa chất, chủ yếu thầy giáo kể cho chúng tôi cách học
thực hành của thầy trên các mẫu đất đá có trong phòng thí nghiệm, quan sát, đối
chiếu với tài liệu sao cho cứ cầm một mẫu đá bất kỳ nào đó là thuộc hết, mô tả
đầy đủ nó, thường thấy ở đâu v.v.. Hàng trăm mấu đá đều nhận biết và thuộc hết
để khi đi vào thực tế không ngỡ ngàng. Mọi người đều biết thầy là người giỏi
nhất thời đó nên chăm chú láng nghe “kinh
nghiệm” học của thầy, thực chất là cố nghe
để “làm theo” cách tự học này của thầy. Tôi học bộ môn sinh vật
địa chất chỉ có mỗi buổi như vậy nhưng sau này khi ra dạy học chỉ thích dạy
toán nhưng do nhà trường thiếu giáo viên dạy môn sinh vật, môn mà mình học coi
như không có gì, nên buộc phải đảm nhận dạy cả môn học này. Quả thật lúc này
mới thực sự tự học trên sách tiếng Pháp và tiếng Nga rồi tự vào phòng thí
nghiệm để làm thử lần đầu tiên, cái gì trong phòng thí nghiệm không có thì đi
sưu tầm trong thiên nhiên mà tự quan sát, bóc tách v.v. để học rồi truyền dạy
lại nó cho học sinh. Lúc này mới thấy hết “Bài học về tự học tự thực hành”
của thấy Nguyễn Văn Chiển là “vô
giá”, giữ lại “ấn tượng” sâu sắc trong đời dậy
học buộc phải không ngừng “tự học
suốt đời”, giúp tôi trưởng thành trong
cuộc đời giáo dục.
Thiết
nghĩ, từ thực tiễn này tôi có “ước
vọng” các thầy giáo, nhà trường các cấp
phải đặc biệt coi trọng “hướng dẫn học sinh” cách tự học để từ đó mà
ham học, rồi sẽ còn phải tự học suốt đời mới cống hiến được nhiều nhất cho cuộc
sống, cho đất nước. Đây phải là một mục
tiêu cần đạt được trong việc hình thành con người mới mà xã hội thực cần, không
thể cứ phải tốn kém nhiều tiền của, nhiều thời gian mà lo đi học thêm hết lớp
này đến lớp khác kiểu “nhồi nhét” nặng nề như vẫn đang diễn ra.
Phải
chăng trong các nhà trường sư phạm, trong các trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục
nhất thiết phải có bộ môn học này: “Hướng
dẫn và rèn học sinh cách tự học để có khả năng tự học suốt đời” thông qua mọi môn học, cả quá trình dạy học dưới
các góc độ khác nhau với các môn học khác nhau, các loại bài khác nhau.
Thiết
nghĩ “ấn tượng sâu sắc” về cách học thực hành của Thầy Nguyễn Văn Chiển
đáng suy nghĩ trong định hướng xác định mục tiêu cụ thể để cải cách giáo dục,
chấn hưng giáo dục trong giai đoạn hiện nay mà nước ta đang cần những con người
mới như vậy.
Nguyễn Đức Thuần 7/4/2009
(Trích bài viết trong tác phẩm ước vọng I
dự thi viết về giáo dục)
Bạn bè cùng học sư phạm trong kháng chiến chống Pháp
(Gặp nhau khi đã về hưu)

Hàng Đứng:
Thuần, Tiệp, Huy Giao, Kiều Nga, Tỉnh, Thuần, Phượng, Tiệp,
Mạnh
Giao,Mạnh; Hàng ngồi: Lê An, Mạnh Giao, Diệu Vân
Mai
Bình, Tỉnh, Vân, Hồng (từ trái sang phải) (tại nhà Diệu Vân từ trái sang phải)

Đứng:
Thuần, Lê An, Huy Giao (ghép ảnh), Mạnh Giao (ghép ảnh)
Ngồi: Tiệp,
Kiều Nga (ghép ảnh), Tỉnh, Phượng, Hồng (ghép ảnh) , Vân, Mạnh, Mai Bình (từ trái sang phải)
Ghi chú:
Nguyễn
Đăng Mạnh được phong giáo sư, nhà giáo Nhân Dân tại trường Đại học sư phạm Hà Nội
(Ngồi thứ 2 bên phải)
Nguyễn Thị Tỉnh đã là Hiệp
phó, Bí thư đảng uỷ trường đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội (Ngồi
thứ 3 bên trái)
Thời kỳ dạy học ở khu học xá tại Trung Quốc:
Bắt đầu là dạy toán, hoá,
sau thiếu giáo viên sinh vật nên Ban giám đốc kêu gọi thanh niên chuyển sang dạy
môn học mà mình ít hiểu biết nhất nên phải tự học khá công phu vất vả qua thực
hành trong phòng thí nghiệm, đi sưu tầm nghiên cứu ngoài thiên nhiên, đặc biệt
tự học qua các sách sinh vật bằng tiếng Pháp, rồi tự học tiếng Nga qua tiếng Pháp
để đọc sách sinh vật bằng tiếng Liên Xô. Ngoài ra cũng chịu khó học hỏi các thầy
lâu năm giảng giải cho sáng tỏ hơn, nhất là áp dụng phương pháp liên tục đi dự
giờ để học trước khi mình lên lớp. Xem bài viết cụ thể sau:
Bài IV. Rút kinh nghiệm từng
tiết lên lớp .
(Trích
bài viết trong tác phẩm ước vọng I dự thi viết về giáo dục)
Năm 1952 tôi bắt đầu ra
giảng dạy ở Khu học Xá trung ương, lại phải đảm nhận dạy thêm môn học mà mình
ít biết là sinh vật học vì thiếu nghiêm trọng giáo viên bộ môn này. thế là tôi
với ý thức phải hoàn thành tốt nhiệm vụ mà lãnh đạo Khu học xá giao cho: “Phải tìm mọi cách dậy tốt nhất đào tạo giáo viên có chất lượng về nước
phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp”, một hành động của chúng
tôi nhận thức “Tất cả cho tiền tuyến” mà trong nước
đang mong đợi. Là giáo viên trẻ mới ra trường, kiến thức học được chẳng là bao,
muốn dạy tốt thì phải nai lưng ra mà học. Tôi xác định vài hướng học để nhanh
chóng dạy tốt. Đó là đọc sách chuyên môn bằng tiếng Pháp và tự học tiếng Nga
qua tiếng Pháp đồng thời mua ngay sách giáo khoa tiếng Nga bộ môn lớp học mình
đảm nhận để thực hành dịch phục vụ tham khảo giảng dạy. Quan trọng nhất là xin bố trí thời khoá biểu những ngày đầu tuần không
có giờ lên lớp để đi dự giờ người khác dạy trước cùng bài mà học tập, nghiêm
túc rút kinh nghiệm có ghi chép từng tiết học để vận dụng cải tiến giảng dạy
cho các lớp mình đảm nhận chỉ lên lớp vào các ngày cuối tuần. Sau mỗi buổi dạy
cũng tự suy ngẫm ghi lại kinh nghiệm hay, điều gì cần cải tiến nên nhanh chóng
dạy tốt, lại được mời dạy mẫu cho việc đào tạo giáo viên trung cấp bộ môn sinh.
Điều gì cần thực hành mà mình chưa rõ thì vào phòng thí nghiệm mà học, luyện
hoặc ra ngoài thiên nhiên mà sưu tầm các loại hoa, lá v.v.
Cuối năm học, ban giám đốc
khu học xá kêu gọi viết kinh nghiệm giảng dạy, tôi hoàn toàn có khá đầy đủ tư
liệu ghi chép rút kinh nghiệm từng bài giảng trong một năm học nên viết được
nhiều, được sâu theo nhiều chuyên đề nhỏ như kiểm tra miệng đầu giờ như thế nào
có hiệu quả và kiểm tra được nhiều người nhất trong thời gian quy định; tổ chức
cho lớp học xem kinh hiển vi như thế nào khi cả lớp chỉ có một kính hiển vi; tổ
chức cho học sinh chủ động học tham gia xây dựng bài học; dậy những bài tổng
kết chương nên như thế nào?; tổ chức cả lớp thực hành ra sao? v.v. Bản thân tôi thấy như chính mình tự học trong thực tế các bài học về
phương pháp giảng dạy rất cụ thể, từ đó mà nâng cao khả năng giảng dạy cho
chính mình. Ban giám đốc khu
học xá đánh gía cao nhất tập viết kinh nghiệm này của tôi. Tôi thấy chính ban
giám đốc khu học xá và lãnh đạo trực tiếp từng trường trong khu học xá đã chỉ
đạo và tạo điều kiện để chúng tôi đi sâu vào chuyên môn, làm được như vây.
Từ
việc làm này suy ngẫm và có “ước
vọng” là ngành giáo dục & đào tạo nên
có cách nào đó để tổ chức cho nhiều giáo viên tận tâm, dạy giỏi viết hướng dẫn
giảng dạy cho từng bài, các loại bài cho từng bộ môn để tiến tới có sách tham
khảo cho mọi giáo viên muốn dạy tốt, cải tiến giảng dạy., tương tự như sách
phương pháp giảng dạy cho từng bộ môn, tới từng bài mà tôi đã thấy xuất bản ở
Liên Xô trước đây phục vụ bồi dướng giáo viên có hiệu quả cao.
Nguyễn Đức Thuần 7/4/2009
Thời
gian sau ra địa điểm mới của Khu học xá được xây dựng khang trang tại Thành phố
Nam Ninh, nơi mà trước đây, từ Tâm Hư vẫn định kỳ đi bộ vài cây số ra thành phố Nam Ninh háo hức
xem phim lần đầu tiên trong đời. Tôi còn tham gia công tác phân đoàn thành niên
cứu quốc giáo viên và tham gia phụ trách công tác Thiếu nhi tháng Tám của Khu học
Xá mà anh Đức Minh làm tổng phụ trách.
Cuối
năm học đầu tiên làm nghề dạy học tôi được khen thưởng về viết sáng kiến kinh
nghiệm giảng dạy loại xuất sắc nhất và được công nhận như là chiến sĩ thi đua, được
tặng huy hiệu khu học xá Trung ương làm kỷ niệm.

Ảnh chụp năm 1953 đeo huy hiệu Đoàn
Thanh niên
và huy hiệu phần thưởng của Khu học xá
Vài
hình ảnh minh hoạ:
Lớp chủ
nhiệm đầu tiên 1952-1953 Chụp ảnh
với tổ thiếu niên của lớp

Chụp ảnh với tổ thanh niên của lớp
Với Tổ khác của lớp và Nhóm thiếu
niên

Tham gia phụ trách Thiến nhi Tháng
8 Tham gia ban nhạc của trường.

Dân làng Đình Bảng gặp nhau ở Tâm Hư và Người Họ Hàng trong Làng

Trích giấy thông hành do CA Thái Nguyên
cấp để đi vào Xã Quang Trung, an toàn khu học tập chuẩn bị về Tiếp Quản Hà Nội
Sau chiến tháng Điện Biên Phủ năm 1954:
Về nước tham gia cải cách ruộng
đất ở Thái Nguyên: Tham gia đoàn ở Khu Học Xá về có Phạm Tuyên cùng Nguyễn Đức
Thuần thực hiện “ba cùng”, “gợi khổ”, tìm ra “địa chủ” ở một xã.An Khánh Đại Từ
Thái Nguyên.
Tại đây tôi nhớ mấy sự việc: tôi được phân công vào
một nhà Bần nông, được vài hôm phát hiện ra không phải là bần nông mà là Trung
nông nên báo cáo xin chuyển sang nhà khác dù mọi thứ đều khổ sở hơn rất nhiều về
ăn uống cũng như chỗ ngủ. Khi chỗ tôi tìm không ra đủ 5% địa chủ lại được mời lên
Đoàn uỷ, ban chỉ đạo trung ương để chấn chỉnh là phải tìm ra cho đủ 5% địa chủ
mới đạt yêu cầu chỉ đạo chung. Khi về họp thì dân tố lên đến 7% nhưng tính toán
thì cũng chỉ có 2% đạt tiêu chuẩn còn lại đều là Phú nông mà thôi, nên cứ phải
làm đi làm lại. Sang đến giai đoạn tổ chức đấu tố điển hình toàn xã thì tôi nhận
được lệnh đi nhận công tác khác. Đi vòng về đoàn uỷ nhận lệnh rồi đi bộ lên Tuyên
Quang gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục nghe giải thích về thắng lợi hội nghị Giơ ne vơ
rồi giao nhiệm vụ đi bộ vòng về Thái Nguyên đến xã Quang Trung là an toàn khu để
dự lớp học quy mô đông đảo các loại cán bộ chuẩn bị về tiếp quản vùng mới giải
phòng.
Sau một tháng học tập, được Bác Hồ đến động viên
giao nhiệm vụ, kể câu chuyện “Cái Đông hồ” và “Đạn bọc đường” nhằm yêu cầu nhận
nhiệm vụ gì cũng phải nghiêm túc hoàn thành như từng bộ phận của cái đồng hồ và
khi vào vùng mới giái phòng, vùng thành thị thì phải giữ vững phẩm chất, không
bị sa ngã như vấp phải viên đạn bọc đường “ăn vào thấy ngọt” mà không biết, khi
biết ra thì quá muộn. Chúng tôi khắc sâu lời dạy quý giá này để thực hiện.
Ngày 2 tháng 10 năm 1954 tôi nhận được lệnh lên đường,
trang bị quần áo quân quản để vào Thành ngay ngày hôm 2/10 làm việc với các sĩ
quan Pháp việc tiếp nhận bàn giao sao cho hoàn thành chậm nhất là ngày 9/10 để
ngày 10/10/1954 đoàn quân chiến thắng chính thức vào tiếp quản Thủ Đô.
Đến Trung Giã buổi sáng, chờ bên sĩ quan Pháp cấp giấy
tờ vào Hà Nội nhưng mãi đến 4 giờ chiều mới xong ( giấy thông hành vào nội thành
một bên đại tá Pháp ký, một bên Đại Tá Lê Quang Đạo ký), chúng tôi đi xe tải chở
người do lái xe của Pháp và có lính Pháp bảo vệ từng xe theo xe của UB Giám sát
Quốc tế vào đến cầu Long Biên thì đã vào buổi chiều và khi qua cầu Long Biên thì
thành phố đã tối om, le lói vài nơi có đèn điện. Sau này tôi mới biết là bên phía
Pháp cố tình chậm trễ để khi đoàn của ta vào đến nơi thì trời tối dân ít biết. Xem
bài viết dự
thi « Hà Nội trong tôi: »
Bài III. Về tiếp quản Hà Nội năm 1954
Sau hiệp định Paris
tại Giơ ne vơ, đang tham gia cải cách ruộng đất đợt I ở Thái Nguyên, tôi nhận
được lệnh của Bộ giáo dục lúc đó ở Tuyên Quang để nhận nhiệm vụ mới. Đó là
nhiệm vụ tập trung học tập để chuẩn bị về tiếp quản vùng mới giải phóng. Cuối
lớp học Bác Hồ có đến thăm và nhắc nhở nhiệm vụ qua 2 câu chuyện “cái đồng hồ”
và “đạn bọc đường”, nghĩa là phải tuân thủ ý thức tổ chức theo sự phân công của
cơ quan như các bộ phận của cái đồng hồ, nhiệm vụ nào cũng phải hoàn thành và
phải tránh viên đạn bọc đường khi vào thành phố để không bị “hủ hoá”, “hưởng
lạc” mà mất phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ. Theo lời dạy này,
chúng tôi ghi sâu để thực hiện khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội.
Sáng sớm ngày 2/10/1954 chúng tôi đã có mặt ở Trung
Giã để làm thủ tục nhận giấy thông hành với trách nhiệm là đội quân quản hành
chính vào trước hoàn thành các thủ tục văn bản từ tứng cơ sở đến từng ngành với
phía quân Pháp để 2 bên ký biên bản bàn giao Thủ đô xong trong ngày 9/10/1954.
Thủ tục bị kéo dài nên mãi đến xế chiều hôm đó xe
của chúng mới lên đường vào Hà Nội theo hướng qua Cầu Long Biên . Đi đầu đoàn
chúng tôi là các xe của đoàn Giám sát Quốc tế mang cờ quốc tế, xe của chúng tôi
đi tiếp theo chỉ là xe tải chở quân, cũng là xe của quân đội Pháp do lái xe
người Pháp lái và có lính Pháp mang súng ngồi phía sau trên từng xe để bảo vệ.
Cuối cùng của đoàn xe lại là xe của giám sát quốc tế. Trên dọc đường đi vào
chúng tôi chứng kiến cảnh khi đi qua các trại lính Pháp, binh lính reo hò chào
mừng, phải chăng là được yên nghỉ không phải đi “càn quét” nguy hiểm như trước
đây nữa?. Qua cầu Long Biên, gió chiều mát lộng, xe đi chậm thấy rõ cả đoàn xe
có cờ của Giám sát quốc tế, cảm thấy lâng lâng tự hào của những người 9 năm
trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi đã thực sự chiến thắng trở về. Ôi bao
công sức, bao xương máu của toàn Đảng, toàn dân, của cả dân tộc đã gian khổ đổ
ra để giành lấy độc lập tự do này mà mình được vinh dự là đại diện vào trước
thành phố làm nhiệm vụ lịch sử đặc biệt có một không hai này.
Vào đến Hà Nội thì trời đã tối, có nơi đôi chỗ đã
thấy ánh điện không nhiều nhưng đã bắt gặp nhiều người lao động tỏ vẻ vui mừng
nói to cho chúng tôi nghe thấy: “
Các anh ơi, mau mà vào giữ trật tự cho dân”
hay “ Chúng em chờ đợi lâu rồi,
khổ lắm rồi, các anh vào nhanh lên” . Sau
này chúng tôi mới biết là phía bên quân Pháp cố tình kéo dài thủ tục để khi vào
đến nội thành là trời tối không cho đông đảo nhân dân đón chào mừng. Hoá ra
chậm là lý do cố ý như vậy!.
Cuối cùng chúng tôi được đưa đến “trại lính của Pháp ở Nhà thương Đồn Thủy
trước đây”, vào ở bên trong có một khu
riêng, có tổ quân đội của mình mang súng AK bảo vệ và có đội cấp dưỡng riêng của minh đã mang
theo thực phẩm nuôi đoàn chúng tôi đảm bảo an toàn tuyết đối về ăn ở.
Chờ một vài hôm cho lãnh đạo cấp cao 2 bên bàn công
việc cần triển khai, cuối cùng chúng tôi được đón đến trụ sở uỷ ban hành chính
hiện nay để gặp gỡ các sĩ quan Pháp, chia nhau thống nhất lịch làm việc từng
đôi một đi đến từng công sở xem xét lập biên bản bàn giao và ghi rõ phiá bên
Pháp có vi phạm gì không về để nguyên hiện trạng để bàn giao theo cam kết . Tôi
nhận nhiệm vụ đi cùng một sĩ quan Pháp đi đến các trường ở phía Bắc Hà Nội, nay
thuộc quận Ba Đình. Chúng tôi phải làm việc căng quá giờ hành chính, sĩ quan
Pháp đòi về vì hết giờ, tôi không nghe và báo việc nhiều, các ông cần về trước
thì cứ về, có gì các ông phải chịu trách nhiệm không hoàn thành khối lượng công
việc phải làm xong. Cuối cùng họ phải chấp nhận.
Đến nhiều trường chúng tôi còn chứng kiến có các
cháu học sinh mang cờ hoa đến chào mừng, phấn khởi vì biết niềm tin yêu của dân
với cách mạng nhưng cũng phải nhắc khuyên nhà trường và các thầy chịu khó chờ
đến ngày 10/10, khi quân Pháp rút, bàn giao xong hãy mạng cờ hoa ra đón tiếp.
Bây giờ, trước mặt sĩ quan Pháp, theo quy định không được tụ tập đông, mong các
bác, các cháu thông cảm. Cũng có hôm đi về phía Bach Mai, đến kiểm tra khu học
xá nay là khu tập thế Bách Khoa, tôi còn chứng kiến vài cành người lao động đi
theo xe chúng tôi hào hứng phấn khởi nói “ Tiên sư…, bây giờ mày phải
Gác đờ co (bảo vệ) cho chúng tao.. hết đàn áp chúng tao nữa ..”.
Hoàn thành xong mọi nhiệm vụ được phân công, tối
9/10/1954 tôi được phân công đến hỗ trợ trực bảo vệ bảo tàng ở Phố Cao Bá Quát.
Sáng sớm hôm sau độ 4 giờ sáng tôi chứng kiến ở gần đó bọn lính Pháp làm lế Hạ
cờ buồn bã lặng lẽ cuốn gói rút lui. Sau khi quân Pháp rút đi, phia sau lần
lượt nhân dân phấn khởi tổ chức cắm cờ hoa nhộn nhịp hẳn lên hơn ngày hội, sẵn
sàng đón đoàn quân chiến thắng chính thức trở về. Tôi theo những người dân, tìm
chỗ đứng vẫy chào đoàn quân của ta rầm rập trở về trong hân hoan reo hò, hoàn
toàn tự nguyện thể hiện tấm lòng và trái tim của nhân dân với cách mạng.
Sau ngày 10/10/1954 tôi được phân công về tiếp quản
và giảng dạy tại trường Chu Văn An, ở ngay trong trường, làm mọi việc “yên lòng
dân”, khẩn trương chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học đầu tiên vào cuối tháng
10 được bình thường dù còn thiếu một số giáo viên đã đi vào Nam rồi..
Tôi có may mắn đặc biệt được chứng kiến cả 2 sự kiện
lịch sử có một không hai xẩy ra ở Thủ đô: Ngày 2/10/1954 vào Hà Nội có sự giám
sát của Uỷ ban giám sát quốc tế để làm việc với sĩ quan Pháp hoàn tất mọi thủ
tục hành chính để bàn giao tiếp quản Thủ đô với tư cách là người chiến thắng vào
trước. Ngày 10/10/1954 chứng kiến một đơn vị quân Pháp hạ cờ lặng lẽ cuối gói
rút lui trong trật tự đồng thời hoà vào đám đông nhân dân Thủ đô tưng bừng phấn
khởi vui mừng chào đón đoàn quân chiến thắng trở về. Ấn tượng đặc biệt đầy tự
hào này nhắc nhở tôi phải lo góp phần tích cực xây dựng lại Thủ Đô
Nguyễn Đức Thuần
1/6/2009

Đoàn quân Pháp cuối cùng rút lui
khỏi Hà Nội trong ngày giải phóng Thủ đô

Tôi hoà mình vào nhân dân đón chào đoàn
quân chiến thắng trở về.

Đoàn quân chién thắng rầm rập trở về trong sự vui mừng nồng nhiệt
đón chào của nhân dân Thủ Đô ngày 10/10/1954
lịch sử.
Bài IV: Trường Chu
Văn An - Ấn tượng sâu sắc.
(đã
đăng báo KTĐT ngày 6/7/2009)
Sau
ngày 10/10/1954 tôi được phân công về tiếp quản và giảng dạy tại trường Chu Văn An, tại đây tôi có nhiều ấn tượng đẹp trước sau
rất sâu sắc:
1. Có những học sinh gia đình chuẩn bị đi Nam nhưng
những học sinh này không muốn đi, muốn ở lại miền Bắc đến hỏi giáo viên làm
nhiệm vụ tiếp quản và giảng dạy mà các em thường gọi là các thày kháng chiến
trở về tiếp quản trường ta. Các em thường nói: em rất muốn ở lại học tập rồi
được phục vụ miền Bắc như mọi người thì chúng em có được giúp đỡ gì không?.
Chưa biết thế nào, với niềm tin, chúng tôi trả lời là được rồi chúng tôi bàn
nhau, tổ chức một nhóm nội trú trong trường để giúp nhau ăn, ở, học tập. ngoài
ra còn xét xin cấp trên có trợ cấp kiểu học bổng hàng năm. Tôi nhở có em học
sinh cụt một tay tên là Nguyễn Hùng Cường, chơi bóng bàn tốt, đã xin ở lại
nhưng một hôm thấy mẹ và em của Hùng Cường từ Hải Phòng lên đứng ở sân trường
đang thuyết phục cùng gia đình đi Nam. Em Hùng Cường vào mời chúng tôi ra hỏi
nhiều điều trong đó có điều quan trọng là chúng tôi đảm bảo nhận làm em nuôi,
lo cho học tập đi đại học rồi ra công tác bình thường như mọi người dân miễn là
chịu khó học thi cử đảm bảo và bố trí chỗ ăn ở ngay trong trường. Chúng tôi đã
làm được như vậy, em này vào học đại học sư phạm môn vật lý để có đủ học bổng
ăn học và học xong chắc chắn có nơi dạy học. Sau này trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước tôi nhận được một bức thư của một cô giáo tên là Hà cùng dạy
vậy lý với Cường ở Nam Hà, hỏi tôi về Hùng Cường xem thực hư gia đình thế nào,
vì sao ở lại, có thể lấy làm chồng không v.v..Tất nhiên tôi cho cô Hà biết hết
sự thật về gia đình và con người và 2 người đã kết duyên cùng nhau, vẫn biên
thư cho tôi, khi cả 2 cùng về giảng dạy ở Thủ Đức sau giải phóng miền Nam vẫn
biên thư cho tôi, đôi khi cũng ra Hà Nội thăm bạn bè và các thầy Chu Văn An cũ.
Đây đúng là ấn tượng tình người, tình thầy trò trong hoàn cảnh đất nước ta, khó
mà quên được.
2. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, chiều 18/12/1954
Bác Hồ vẫn thu xếp đến thăm trường Chu Văn An. Bác vào trường không theo cổng
chính mà đi theo cổng phụ, lại đi thăm trước nhà xí, nhà ăn tập thể rồi mới đi
dự lớp học và nói chuyện với thầy trò tập trung ngoài sân trường, lúc đó tạm ở
67 Cửa Bắc. Điều Bác nói mà thầy trò trường Chu Văn An khắc sâu, ghi nhớ mãi đề
làm theo: “..Nước ta đã được độc
lập, học bây giờ khác trước, học không phải để đi làm quan, học để làm tốt mọi
việc mà tổ quốc cần ở bất cứ nơi nào ..”
Thầy trò chúng tôi sôi nổi bàn về mục đích học tâp, động cơ học tập, khắc sâu
quan điểm học tập không phải để đi làm quan và học tập để phục vụ nhân dân ở
bất cứ nơi nào mà tổ quốc cần đến. Có học sinh học xong không học lên, xung
phong lên miền núi dạy học theo lời kêu gọi, có học sinh xung phong đi bán báo
Đảng mà lúc đó đang cần, nhiều học sinh ngoài giờ học đã xung phong đi dạy
thanh toán nạn mù chữ, dạy bổ túc văn hoá cho nhân dân khu lao động, nhưng học
sinh học lên, khi học xong đều đi khắp nơi phục vụ trong quân đôi, đi B, làm ở
mọi ngành nghề phục vụ củng cố miền Bắc, Chi viện cho miền Nam. Thế hệ học sinh
này đã làm theo lời Bác dạy, tô thêm truyền thống hiếu học yêu nước của trường
Chu Văn An Hà Nội, của người dân Thủ đo Anh Hùng, của thành phố vì hoà bình
trong trái tim nhân loại. Ấn tượng này về học sinh Chu
Văn An rất đáng tự hào, trân trọng.
Khóa học sinh Chu Văn An 1951-1958 này, ngày nay đã
về hưu, ở khắp mọi nơi, hàng năm vẫn họp
mặt, đã họp mặt lần thứ 22 để ôn lại những kỷ niệm sâu sắc một thời học tập
dưới mái trường được giáo dục tốt, giáo dục sâu sắc, rồi tự hào kể cho nhau
nghe việc đã làm, nay làm gì sao cho xứng đáng, lại còn đóng góp xây dựng quỹ
khuyến học ổn định giúp trường học bổng hàng năm. Thật quý hoá, có một thế hệ
học sinh Hà Nội như thế.
3. Tại ngôi trường này do tích cực công tác, cải tiến
giảng dạy, 2 năm là chiến sĩ thi đua, tôi có vinh dự được nhận huy hiệu Bác Hồ
tặng cho thanh niện giáo viên Thủ Đô năm 1956 do liên chi đoàn thanh niên giáo
dục Hà Nội đề nghị. Một kỷ niệm sâu sắc đối với tôi, nhắc nhở tôi phải tiếp tục
học tập, rèn luyện công tác tốt mãi về sau.
Nguyễn Đức Thuần
2/6/2009

Bác Hồ đến thăm trường Chu
Văn An chiều 18/12/1954
(Tôi đứng đằng sau,
phía tay phải Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, đứng bên phải ảnh)

Các giáo viên trường Chu
Văn An năm 1955-1956
NĐ Thuần, Lê An, AV. Chiêu giáo viên
Năm 1956 nhận huy hiệu Bác Hồ
Cán
bộ lớp đệ tứ A 1954-1955

Toàn bộ lớp học sinh lớp chủ nhiệm đề tứ A
năm 1954-1955
Lớp đệ tứ B Chu
Văn An năm học 1954-1955
Lớp đệ tứ C năm
học 1954-1955 và chủ nhiệm lớp đệ tứ D năm học 1955-1956

Tổ 1 lớp đệ tứ A năm 1954-1955 Tổ 2 lớp đệ tứ A năm 1954-1955

Tổ 3 lớp đệ tứ A năm 1954-1955 Tổ4 lớp đệ tứ A năm 1954-1955

Tổ 5
lớp đệ tứ A năm 1954-1955 Tổ 6
lớp đệ tứ A năm 1954-1955

Cựu giáo viên Chu
Văn An sau này gặp nhau trên Hồ Tây
1, 2, Nhưng, Thuỷ, Lê An, Thương, Chiêu,
Thuần, Thiêm, Vịnh

Cựu giáo viên và cựu học sinh Chu Văn An 1951-1958 họp mặt hàng năm
Nguyễn Đức Thuần ngồi ghế thứ 2 từ bên
trái sang phải

Cựu giáo viên và học sinh Chu Văn An niên khoá 1951-1958 họp mặt 1/1/2001 Chào đón
thiên niên kỷ mới. NĐ Thuần ngồi ghế sau người ngồi quỳ thứ 5 từ bên trái sang
phải giữa An Văn Chiêu và Lê An, cán bộ tiếp quản nhà trường 1954

Thầy trò Trường Chu
Văn An Khoá 1951-1958 họp mặt lần thứ 22

Thầy Nguyễn Văn Chiển đứng bên trái chụp
khi về thăm
trường Chu
Văn An. Thuần đi cùng đứng bên phải ảnh chụp.

Cựu giáo viên về họp hàng năm chụp ảnh chung trước tượng đài Chu Văn An
Bài V. Trường Trưng Vương - Ấn tượng sâu sắc.
(đã đăng báo KTĐT ngày 6/7/2009)
Năm
học 1956-1957 tôi được điều chuyển từ trường Chu
Văn An về dạy cấp 3 trường cấp 2-3 Trưng Vương và giảng dạy tại đây đến năm
1959. Tôi dạy sinh hoá và làm tổ trưởng bộ môn, phụ trách lao động toàn
trường.. Tại mái trường này tôi có những ấn tượng sâu sắc đặc biệt không bao
giờ quên:
1. Đảng ra công khai lãnh đạo nhà trường: Sau nhiều năm
đóng cửa để củng cố Đảng không kết nạp đảng viên mới trong kháng chiến chống
thực dân Pháp, nay đã mở cửa và ra công khai hoạt động. Tôi có may mắn được kết
nạp đợt đầu tiên sau một thời gian đóng cửa. Sau kết nạp ngày 6/1/1958 thì Đảng
làm lễ ra công khai hoạt động vào năm học 1958-1959. Ấn tượng ra công khai hoạt
động, nhân dân giám sát chất lượng Đảng viên nên “thúc đẩy” tôi cũng như các
đảng viên khác phải thực lòng xung phong gương mẫu trong mọi công việc lo cho
việc chung, lo cho mọi người. Điều đó đã giúp tôi rèn luyện và Đảng nhà trường
luôn trong sạch vững mạnh được mọi người tin yêu, do đó cuối năm học tôi được
bầu là chiến sĩ thi đua và được công nhận là đảng viên xuất sắc.
2. Trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường xã hội
chủ nghĩa, tổ bộ môn sinh hoá chúng tôi đã đua nhau suy nghĩ sáng tạo dám nghĩ
dám làm, thực tế đã làm được nhiều việc đáng kể: Xây dựng được vườn trường thực
hành bộ môn sinh trong điều kiện diện tích đất rất hạn hẹp, lại thí điểm cho
một giáo viên dạy thành công bài học ngay tại vườn trường rất sinh động, hấp
dẫn; tổ chức nhiều hoạt động ngoại khoá bộ môn sinh ngoài trời tăng lòng yêu
thích bộ môn, góp phần giáo dục hướng nghiệp rất tự nhiên; tổ chức thực hành bộ
môn Hoá kết hợp lao động sản xuất như làm bông nhân tạo từ rơm, đúc nồi nhôm,
thìa nhôm thủ công tận dụng các đồ nhôm cũ hỏng thu gom lại v.v. Nhiều hoạt
động giáo dục, thực hành lao động có hiệu quả và Bác Hồ có đến thăm trường để
khen ngợi động viên. Tôi được phân công chuẩn bị tặng phẩm cho Bác Hồ. Tôi chọn
một bàn thấm do xưởng mộc của nhà trường làm ra và một nồi nhôm do thầy trò đúc
ra. Bác nhận, Bác Khen và hỏi đã làm được bao nhiêu cái nồi nhôm rồi. Khi nghe
trả lời được 42 cái nồi nhôm, Bác trả lại và nói: Bao giờ nhà trường thực hành
sản xuất ra 420 cái nồi thì Bác nhận. Thoảng cảm thấy buồn nhưng lại hiểu ngay
điều Bác mong là học tập phải kết hợp với lao động sản xuất, làm ra được càng
nhiều hàng hoá cho xã hội càng tốt. Viết lại điều này, ấn tượng sâu sắc này
cũng là để nhắc nhở lại ngành giáo dục nhất là giáo dục Thủ đô nghĩ gì về thực
hiện nguyên lý phương châm giáo dục này trong giai đoạn hiện nay cần thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội, một thời mà nhiều trường Hà Nội đã làm tốt việc này.
Nguyễn Đức Thuần
6/6/2009
Thời gian công tác tại
trường nữ trung học Trưng Vương 2-3 :
Tôi
dạy sinh vật lớp 8 và lớp 9, chủ nhiệm lớp 9A1 năm học 1956-1957 rồi lớp 9A năm
học 1957-1958. Bí thư chi đoàn giáo viên, tham gia ban chấp hành liên chi giáo
viên ngành giáo dục và ban chấp hành công đoàn ngành giáo dục; phụ trách lao động
toàn trường..
Tại
đây được kết nạp Đảng 6/1/1958, chính thức 6/1/1959 do đ/c Nguyễn Minh Quang và
Đinh Viết Khả giới thiệu, đ/c Nghiêm Chưởng Châu làm bí thư chi bộ kiêm hiệu phó
nhà trường. Được bầu là chiễn sí thi đua năm 1958 và 1959, tham gia chỉnh lý sách
giáo khoa sinh vật lớp 8 và lớp 9

Chi đoàn giáo
viên trường TV Nhóm Nam giáo viên ở
trong trường

Cán bộ giáo viên, công nhân viên của trường
năm 1959
Nguyễn Đức Thuần đứng trên cao nhất ở giữa.

Nhóm học sinh tham gia thực hành nữ công
gia chánh

Dự đại hội chiến sĩ thi đua công nông binh
thành phố năm 1959
NĐ Thuần giơ cờ thi đua của thành phố tặng
ngành giáo dục đứng bên phải

Cựu giáo viên trường Trưng Vương 2-3
thời đó họp mặt năm 2004
NĐ Thuần đứng hàng 2 thứ 2 từ bên trái
sang phải

Cựu giáo viên
trường Trưng Vương 2-3 thời đó hàng năm đều họp mặt.
Ảnh trên chụp
kỷ niệm họp mặt năm 2005
NĐ Thuần đứng
thứ tư từ bên phải sang trái
Năm
học 1959-1960 được bổ nhiệm quyền hiệu trưởng trường cấp 2-3 Nguyễn Văn Sắc ở Bạch
Mai:
Trường
đóng ở Chùa Hưng Ký có 2 lớp 8 và 1 lớp 6 và Đình Đình Đại ở giữa phố Bạch Mai
có 2 lớp 5, một trường mới mở ở khu lao động chỉ có lớp đầu cấp như vậy. Tôi
sinh hoạt chi bộ chung với trường Hoàng Văn Thụ, phụ trách tuyên huấn chi bộ,
chủ yếu làm nhiệm vụ hiệu trường trường Nguyễn Văn sắc, dạy Hoá, sinh. Vì là trường
mới mở không có cơ sở vật chất riêng nên mọi việc đều phải tự lo mượn nơi làm
buồng lớp để kịp khai giảng học tập:

Khai giảng năm học 1959-1960 trường Nguyễn
Văn Sắc Bạch Mai
Toàn thể giáo viên của trường: Thế,
,Ái,Khắc,Liên,Giang,Bích,Uẩn,Hiền, , , Biên, Thuỷ, Sơn, Thuần.

Hiệu trưởng đọc
diễn văn khai giảng

Năm 1960 được thành đoàn Thanh niên Hà Nội
giới thiệu ứng cử đại biểu quốc Hội khoá 2 tại Hà Nội. Dịp này được 2 lần trực
tiếp gặp Bác Hồ

Đoàn chiến sĩ thi đua cán bộ giáo dục Hà
Nội dự hội nghị thi đua công nông binh Hà Nội năm 1960. N Đ Thuần ngồi
hàng đầu thứ tư từ bên trái sang phải

Đại diện hội nghị chiến sĩ thi đua tiêu
biểu các ngành chuẩn bị lên phủ Chủ tịch thăm Bác Hồ do anh hùng Lê Minh Đức đứng
đầu bên trái ảnh dẫn đầu. NĐ.Thuần đứng thứ 2 bên trái cạnh anh hùng lao động
NV.Tạo.
Chủ tịch TP, BS Trần Duy Hưng phía sau cạnh
cửa ra vào bên tường trắng
Năm
học 1960-1961 về làm hiệu phó trường Phổ thông 3A- Việt Đức, xây dựng trường điểm
có trang bị thí nghiệm toàn bộ của Cộng Hoà Dân Chủ Đức:
Hiệu phó trường THPT 3A (sau này là Việt
Đức), phụ trách giáo vụ và đoàn thanh niên học sinh: là chiến sĩ thi đua và
được tặng Huân chương Lao động Hạng Ba do chủ tịch Hồ Chí Minh ký.

Năm 1961 nhận
huân chương Lao động hạng Ba:
Ba năm chiến
sĩ thi đua liên tục
Năm học 1961-1962 học chuyên tu Nga văn tại Gia Lâm:

Kết thúc lớp học, lớp 34 Nga năm 1962 chụp
ảnh kỷ niệm cùng các giáo viên,
có
giáo sư Người Nga. N Đ Thuần đứng thứ 2
từ bên trái sang phải
Trong cuộc thi nói cuối năm được công nhận
là kiện tướng nói tiếng Nga
Trở
về làm hiệu phó trường Trưng Vương 3A Đống Đa 1962- 1964:


Thời
kỳ Hiệu trưởng trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều 1964-1969: Trích trên mạng giới thiệu nhà trường
Thầy Nguyễn Đức Thuần - Hiệu trưởng nhà trường những
năm chống Mỹ
Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước đày khó khăn gian khổ , trường cấp III Nguyễn Gia Thiều đã được sự lãnh
đạo của một nhà giáo tâm huyết và giàu năng lực : thầy Nguyễn Đức Thuần . Thầy
Nguyễn Đức Thuần nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng trường từ năm 1963 và đảm nhiệm chức
trách này trong 6 năm , cho đến năm 1969 thầy được chuyển về nội thành đảm nhận
cương vị mới tại trường Sư phạm 10+3 Hà Nội . Năm 1964 , trước khi bước vào
khai giảng thì giặc Mỹ ném bom miền Bắc , thầy Nguyễn Đức Thuần lãnh đạo giáo
viên , nhân viên , học sinh đi sơ tán và đến năm 1965 chia thành 2 phân hiệu :
Nguyễn Gia Thiều A sơ tán ở Việt Hưng , Nguyễn Gia Thiều B sơ tán ở Đình Xuyên
( Sau này phân hiệu Nguyễn Gia Thiều B trở thành trường cấp III Yên Viên ) .
Năm 1966 , máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang , thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức
Thuần lại lãnh đạo toàn trường ( A ) chuyển địa điểm sơ tán về Bắc Cầu ( Xã
Ngọc Thuỵ ) . Đó là những năm tháng hết sức vất vả , khó khăn vì phải đảm bảo
dạy và học trong điều kiện thiếu thốn nhiều thứ . Rất nhiều buổi học bị gián
đoạn vì đang học thì máy bay Mỹ tới ném bom , thầy và trò phải ngồi dưới hầm .
Trong điều kiện ấy , thầy và trò trường THPT Nguyễn Gia Thiều vẫn vượt qua và
vẫn đạt thành tích cao trong dạy và học . Chính vì vậy , khi nói đến trường
Nguyễn Gia Thiều trong giai đoạn này không thể không nói tới vai trò lãnh đạo
của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Thuần . Trong buổi Lễ kỷ niệm Ngày nhà giáo
Việt Nam 20-11-2009 , tuy đã gần 80 tuổi nhưng thầy Nguyễn Đức Thuần vẫn tới dự
để chia vui với trường THPT Nguyễn Gia Thiều được Chính phủ tặng thưởng Cờ thi
đua " Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua "
Ảnh : Chi bộ Đảng
trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều năm 1968 tại nơi sơ tán thôn Bắc Cầu xã Ngọc Thụy
: Thầy Nguyễn Trọng Loan ( Toán ) Thầy Nguyễn Đức Thuần ( Hiệu trưởng ) Thầy
Nguyễn Văn Quế ( Văn ) Thầy Nguyễn Hữu Mai ( Hiệu phó ) Thầy Nguyễn
Cao Lý ( Văn ) Cô Ngô Thuần Phong ( Hiệu phó )
Năm học 1964 – 1965 , trường Nguyễn Gia Thiều khai giảng
trong một tình hình rất đặc biệt: ngày 5 - 8 - 1964 giặc Mỹ đã dùng không quân
và hải quân đánh phá miền Bắc. Để bảo đảm an toàn cho thầy vào trò, một hệ
thống hầm trú ẩn được đào quanh các lớp. Sang năm học 1965 – 1966 được lệnh sơ
tán khỏi thị trấn Gia Lâm, trường đã chia thành hai phân hiệu : Nguyễn Gia
Thiều A sơ tán về Việt Hưng, Bắc Cầu còn Nguyễn Gia Thiều B về Đình Xuyên.
Trong mấy lần máy bay địch đánh phá kho xăng Đức Giang nhà trường đã kịp thời
tổ chức học sinh tham gia cứu hỏa, cứu hàng hóa . Thành Đoàn Hà Nội đã biểu
dương kịp thời thành tích phục vụ chiến đấu ấy của học sinh trường ta. Mặc dù
địa điểm sơ tán bị uy hiếp nghiêm trọng, thầy và trò vẫn dũng cảm bám trường
vừa dạy tốt, học tốt vừa tổ chức tốt các hoạt động phục vụ sản xuất và chiến
đấu. Đầu năm học 1966 – 1967, các lớp học được đặt phân tán khắp 3 xóm của thôn
Bắc Cầu xã Ngọc Thụy. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương đã hết lòng
ủng hộ, tạo điều kiện để xây dựng lớp học, nhà làm việc và nhà ở tập thể cho
cán bộ giáo viên. Nhiều gia đình ở Bắc Cầu đã thu hẹp chỗ ở, nhường nhà cửa để
đón nhận gia đình các thầy giáo, cô giáo về sơ tán. Khi viết những dòng này tôi
lại thấy hiện lên những hình ảnh của những thầy giáo đã vượt qua gian nan nguy
hiểm, ngày đêm đi liên hệ mua nguyên vật liệu, điều khiển những đợt vận chuyển
tre, nứa bằng bè mảng vượt sông Hồng để xây dựng lớp học nơi sơ tán. Khi địch
ném bom Thượng Thanh, Gia Thụy, các thầy giáo, cô giáo và học sinh đã tìm đến
thăm hỏi giúp đỡ các gia đình học sinh bị nạn ngay khi tiếng bom vừa dứt. Cũng
trong những ngày rền vang tiếng bom và tiếng súng phòng không ấy, có thầy giáo
tối nào cũng tới trận địa pháo ở thôn Quán Tình (Giang Biên) để dạy bổ túc văn
hóa cho các chiến sĩ pháo cao xạ. Vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, thầy và trò
trường Nguyễn Gia Thiều luôn giữ vững truyền thống dạy tốt, học tốt. Đội tuyển
học sinh giỏi của trường liên tục đạt thành tích trong các kỳ thi học sinh giỏi
Hà Nội và miền Bắc. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cấp 3 luôn đạt vào loại khá của
thành phố.
Chúc mừng thầy giáo Nguyễn Đức
Thuần 50 năm tuổi Đảng
Nhân dịp kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam ( 3-2-1930 / 3-2-2009 ) , thầy giáo Nguyễn Đức Thuần - nguyên Hiệu trưởng
trường cấp III Nguyễn Gia Thiều từ 1964 đến 1969 đã vinh dự được trao tặng Huy
hiệu 50 năm tuổi Đảng . Hiệu trưởng Đặng Đình Đại đã thay mặt toàn thể cán bộ ,
giáo viên , nhân viên và học sinh nhà trường chúc mừng thầy Nguyễn Đức Thuần
trong những ngày " Mừng Đảng - Mừng Xuân 2009 "

Ảnh : Thầy giáo Nguyễn Đức Thuần -
nguyên Hiệu trưởng cấp III Nguyễn Gia Thiều 1964-1969
Ảnh : Thầy Đặng Đình Đại chúc mừng nguyên Hiệu trưởng Nguyễn Đức Thuần

Các thế hệ hiệu trưởng: Đặmg Đình
Đại, Tôn Tich Long, Đoàn Cầu,
Nguyễn
Đức Thuần, Đoàn Thanh,Nguyễn Ân, Nguyễn Văn Quế


Từ trái sang phải: Tôn Tích Long, Đoàn Cầu,
Phùng Hữu Phú TWĐảng,
Đặng Đình Đại, Phạm Gia Khiêm P.Thủ Tướng,
Đoàn Thanh,
Nguyễn Đức Thuần (5 thế hệ hiệu trưởng
chụp ảnh với lãnh đạo thành phố
và
Nhà Nước xuống tặng Huân Chương Lao động cho nhà trường)

3 hiệu trưởng cũ Thuần, Ân, Cầu ngồi hàng
đầu. Thuần đang phát biểu
Họp mặt các thầy cựu Hiệu
trưởng và Bí thư chi bộ qua các thời kỳ
HT:
Thanh, Thuần, Cầu, Long, Đại
BT: Thuần, Phúc, Ngọc, Đại
Thời
kỳ ở Trường Sư phạm 10+3 sau là Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội 1969-1979

Tối
2/9/1969 ngủ tại trường Nguyễn Gia Thiều sơ tán tại Bắc Cầu thu xếp công việc tài
liệu để hôm sau về nhận nhiệm vụ mới: Chủ nhiệm khoa Hoá Sin Địa trường Sư Phạm
10+3 Hà Nội sơ tán tại xã Dịch Vọng Cầu Giấy. Sáng sớm ngày 3/9/1969 khi đi xe đạp
qua cầu Long Biên đến Đầu Cầu phía Hà Nội thi nghe tin trên đài tiếng nói Việt
Nam báo tin Bác Hồ đã mất. Mọi người đều buồn.
Trường
sư phạm 10+3 lúc đó toàn nhà cấp 4, một bộ phận thí nghiệm còn để ở Cửa Bắc.Tại
đây có vài kỷ niệm:
Chăm
lo đặc biệt chất lượng đào tạo vì khi thi tốt nghiệp lại hoàn toàn do trường Đại
học Sư Phạm Hà Nội tổ chức ra đề, chấm thi cùng với khoa cấp 2 của trường Đại học
Sư Phạm sơ tán tại Nam Hà và Trường đại học sư phạm cấp bằng đại học sư phạm
khoa cấp 2, đào tạo giáo viên cấp 2 có trình độ Đại Học hệ 3 năm, ra trường hè
năm 1970: Đi xuống khoa cấp 2 Nam Hà nghiên cứu chất lượng cùng kinh nghiệm; Mời
thầy giáo trường đại học Sư Phạm đến dạy các môn chủ yếu để giáo viên của ta
nghe giảng, học tập kinh nghiệm;
Tôi
đảm nhận dạy như một giáo viên bên cạnh nhiệm vụ chủ nhiệm khoa quản lý chỉ đạo
đào tạo giáo viên cấp 2 Sinh Hoá và Sinh Địa. Tôi nhận dạy môn học thuyết tiến
hóa, di truyền học hiện đại và phương pháp giảng dạy bộ môn.
Tổ
chức cho giáo viên học Nga Văn kiểu chuyên tu một học kỳ tập trung, một nửa học,
một nửa dạy để nhanh chóng có khả năng đọc dịch sách chuyên môn bằng tiếng Nga
và chủ yếu mời giáo viên chủ chốt ở đại học sư phạm đến dạy vừa đảm bảo chất lượng
vừa bồi dưỡng giáo viên, dù đã được ưu tiên tuyển chọn giáo viên có trình độ kỳ
cựu ở các trường cấp 3.
Riêng
khoa Hoá sinh địa còn làm tốt được việc hàng năm đều đi dã ngoại học tập ngoài
thiên nhiên cho bộ môn Hoá tại khu Hoá Chất Lâm Thao Việt Trì, cho bộ môn sinh
tại khu rừng Cúc Phương,, kết hợp với bộ môn Địa đi dã ngoại tại Lạng Sơn rồi tại
Quảng Ninh, coi đó là chương trình ngoại khoá bắt buộc ổn định thành nền nếp.Hết
sức coi trọng thực hành bộ môn đến từng bài để sau này còn giảng dạy hướng dẫn
học sinh cấp 2 thực hành bộ môn. Xây dựng được nền nếp hàng năm có hội thi rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm cấp 2 như tập viết bảng, thi cắm trại, thi kể chuyện ca
hát theo nghiệp vụ giáo viên chủ nhiệm cấp 2, tập giáng bài và đi thực tập.
Tổ
chức tham gia lao động ở nơi sản xuất lớn kết hợp học tập bộ môn được Vụ sư phạm
Bộ Giáo Dục đánh giá cao mời báo cáo kinh nghiệm tại hội nghị sư phạm toàn quốc.
Bản
thân tự học, đến trường Đại học Tổng hợp khoa sinh học đầy đủ các chuyên đề đảm
nhận giảng dạy như di truyền học năm thứ tư tổng hợp sinh cũng như giáo trình
di truyền học của Đại học sư phạm, còn tham gia dạy đại học tại chức môn sinh lý
người và động vật.
Từ
năm học 1970-1971 nh

Về họp mặt với khoa tự nhiên, trước đó là
khoa Hoá Sinh Địa hợp nhất

Một số cựu giáo viên khoa Hoá Sinh Địa trước
đây


Trạm
đại học- Hiệu trưởng Trường Bồi dưỡng giáo
viên cấp 3 HN 1979-1980: Thanh toán
trình độ đại học sư phạm hệ 4 năm cho toàn ngành kiểu vừa dạy vừa đi học tại
chức hàng tuần
Phòng
Giáo dục chuyên nghiệp rồi Ban giáo dục chuyên nghiệp 1980-1989 : Quyền trưởng phòng giáo dục chuyên nghiệp
thành phố HN từ năm 1980 rồi Phó ban Giáo dục chuyên nghiệp thành phố HN từ năm
1982, sau phó ban phụ trách Ban Giáo dục (chưa có trưởng ban)

Bốn lãnh đạo ngành giáo dục chuyên nghiệp
từ 1980 đến 1990

Dự hội nghị MTTQ thành phố, chụp cùng
Chú Lê Quang Đạo
Kỷ niệm Hà Nội giúp Pnông
Pênh một trung tâm dạy nghề thủ công làm quà biếu 1986-1987

Đến Ằng co tham quan 1986
Trước cửa khu nhà đá nghe âm rung

Ghi cảm tưởng khi thăm bảo tàng ở Pnông
Pênh

Sang Pnông Pênh khảo sát việc Thành Phố
Hà Nội tặng Pnông Pênh món quà biếu trang thiết bị một trung tâm dạy nghề thủ công
Thăm di tích Pnông Pênh Sang thiết kế trang bị Trung tâm
dạy nghề

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Pnông Pênh cùng cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Pnông Pênh cùng cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Pnông Pênh cùng cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Pnông Pênh

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp Pnông Pênh

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp Pnông Pênh

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp

Đi thăm di tích Ăng co cùng
cán bộ sở Công nghiệp Pnông Pênh
( Có Nguyễn Đức Thuần và Đặng Tố Lan)
Đi thăm di tích cùng cán bộ
sở Công nghiệp Pnông Pênh
( Có 4 cán bộ Hà Nội Việt Nam sang nghiên cứu)

Phòng học chuyên môn hoá về thực hành
biển báo giao thông cho lái xe của trường dạy nghề kỹ thuật nghiệp vụ giao
thông vận tải Hà Nội
(Ảnh chụp kỷ niệm đoàn khách đến thăm
phòng học chuyên môn hoá tốt
của ngành giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội năm
1984)
Tham dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý ngành dậy nghề 3 tháng tại Lê
Nin Grát từ tháng 9 đến 11/1982


Thời kỳ tham gia Ban quản lý lao động ở Đại sứ quán Liên Xô 1989-1992

Ba chuyên viên Việt Nam Quý, Thuần,
Thuyên từ phải sang trái làm việc với chuyên viên Bộ Lao Động Liên Xô về hợp
tác lao động năm 1990
Thời kỳ về hưu từ cuối năm 1993.
Những năm ở Thành Công Ba Đình:
1. Giai đoạn ở
106 E4 Thành Công Ba Đình Hà Nội:
Đại biểu Hội Đồng nhân dân phường Thành Công
nhiệm kỳ 1999-2004. Tổ trưởng tổ đại biểu
cụm E


Năm 1999 nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
Quận Ba Đình trao
Từ 1994-2004 liên tục tham gia cấp uỷ phụ trách chi hội người cao tuổi
nhà E4 , đảm nhận công tác tổ dân phố rồi bí thư chi bộ nhà E4


Thi Bí thư chi bộ giỏi
giải nhất Thi bí thư chi bộ
giỏi cấp Quận
Phường Thành Công năm 2004 Ba Đình đạt giải nhì

Đạt giải nhì thi Bí thư chi bộ giỏi
Quận Ba Đình năm 2004

Được tặng danh hiệu “Vì sự nghiệp Xây
dựng Thủ Đô” năm 2004
Những
năm ở Trung Hoà Nhân Chính thuộc phường Nhân Chính:
Giai đoạn về 18T1/1705 Trung Hoà Nhân Chính thuộc
phường Nhân Chính Quận Thanh Xuân HN từ 6/2004:

Làm tổ trưởng dân phố nhà 18T1 từ 2004 đến nay

Tham gia ban chấp hành hội cựu giáo chức Hà
Nội từ 2007
N.Đ.Thuần đứng đầu hàng thứ 2 bên trái.
Tham gia cấp uỷ chi bộ khu đô thị mới (đứng
bên phải),
phụ trách MTTQ cụm và tuyên huấn cho bộ
2004-2006

4 đại biểu
khu đô thị mới dự đại hội
Đảng bộ
phường Nhân Chính nhiệm kỳ 2005-2010

Năm 2006 tách
chi bộ, nhận nhiệm vụ bí thư chi bộ
Ảnh Ban chi
uỷ khu đô thị mới “T” 2006-2008
Tham gia Ban quản trị nhà chung cư khu đô thị mới “T”
Trung Hoà Nhân Chính

Một góc trước sân tæng công ty
Vinaconex, nhân dân chứng kiến người đại diện của mình chất vấn, kiến nghị đòi
quyền dân chủ theo luật nhà ở v.v. (Mét ho¹t ®éng m¹nh cña ban qu¶n trÞ
lo cho d©n)
Tham gia hội thi tổ trưởng dân phố giỏi:
Đạt giải nhì hội thi
tại phường, tham gia hội thi cấp quận Thanh Xuân đạt giải nhất


Chụp
ảnh kỷ niệm với chủ tịch Quận TX và Phó chủ tịch Nhân Chính

Tham gia hội thi tổ trưởng dân phố cấp thành phố đạt
giải ba

Thi trắc
nghiệm và thi trình bầy câu hỏi

Trình
bày hoạt cảnh cuộc vận động từ thiện tại tổ dân phố nhà 18T1
Đạt 9 triệu790 nghìn đồng, đứng đầu cách xa
các tổ toàn phường

Tham gia thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Đạt giải nhì cấp phường. Nhận quà bộ quần áo
lụa của thành phố cho người cao tuổi nhất quận tham gia dự thi.

Tháng 3/2008 xin nghỉ công tác bí thư chi bộ
vì tuổi cao
Ảnh chụp kỷ niệm bàn giao công tác cho lãnh
đạo mới.
Nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng ngày 3/2/2009 tại Quận
Thanh Xuân
Tích cực tham gia công tác dân phòng, dân phố khu đô
thị mới “T”


Hàng năm liên tục được công nhận là đảng viên đủ tư
cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

Tham gia viết bài
các loại:


Năm 1995 tham gia dự thi tìm hiểu Đảng được giải thưởng đặc biệt: Một Ti
vi mầu 14 inh.

Năm 2003 thi viết hiến kế “hướng tới Sea Games 22”
Đạt giải nhất do báo An Ninh Thủ Đô tổ chức.

Năm 2004 đạt giải nhì quận Ba Đình thi tìm
hiểu
pháp
lệnh phòng chống mại dâm

Năm 2006 đạt giải lhuyến khích tham gia cuộc
thi
tìm
hiểu 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến.
Hà
Nội “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”

Năm 2006 đạt “ giải đặc biệt” tham gia viết về “văn hoá xe buýt”
do Tổng công ty vận tải Hà Nội tổ chức.

Năm 2007 đạt giải ba thi viết về
“Nói không
với vi phạm trật tự giao thông”
do báo An Ninh Thủ Đô và Vietnamnet tổ chức.

Tham gia biên soạn Bách khoa thư giáo dục Hà Nội,
chủ biên phần giáo dục chuyên nghiệp

Nhiều năm làm công tác viên viết nhiều bài cho
Ban hộp thư đài phát thanh và
truyền hình Hà Nội

69 tuổi mới thanh toán “Mù vi tính”, “Mù internet” từ đó học tập được
nhiều, viết trên 1000 bài báo được đăng, đưa tin, nhiều cuộc thi có điều kiện
viết sâu, viết tốt, đạt nhiều giải thưởng, lại bước đầu xây dựng “chi bộ điện
tử”, “tổ dân phố điện tử”, thành lập “câu lạc bộ internet” khu đô thị mới “T”
v.v.
Đi sâu học kinh dịch và ngoại cảm 2004-2008
Sáng tạo nhiều “Bùa”,
“linh phù” phòng trừ nhiều bệnh:



Viết
nhiều tư liệu:
+ Kinh dịch cơ
bản phổ thông và ứng dụng; Tử vi.
+ Hé mở bức
màn tâm linh, khoa học huyền bí
+ Biên soạn
nhiều tài liệu cho Khu đô thị mới “T”
+ Nhiều tập
bài viết khác







Nguyễn Đức Thuần nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

![]()
50 năm tuổi Đảng.
Năm 51 vào Đoàn,
Kết nạp trong rừng sâu,
Theo Đảng thành nhu cầu,
Tìm hiểu và phấn đấu.
***
Đảng tạm thời đóng cửa,
Chỉnh Đảng, rèn, bảo nhau,
Vì Đảng, Dân trước sau.
Phải trong sạch vững mạnh.
***
Kháng chiến cần sức mạnh,
Đảng còn chưa công khai,
Thông qua Đoàn triển khai,
Cũng đầu tầu, gương mẫu.
***
Năm 58 mở cửa
Tôi trở thành Đảng Viên
Mẫu mực trong giáo viên
Đi đầu trong mọi việc
***
Học, học, làm, làm việc. .
Gương mấu, phục vụ dân,
Ở đâu mà Đảng cần,
Đảng viên trẻ có mặt.
***
|
Tại chức rồi về hưu
Nay tuổi Đảng 50,
Tuổi đời sắp 80,
Vẫn học phục vụ Đảng.
***
8 lần được gập Bác
Tự hào vẫn làm theo
Còn sống học, làm theo
Hoà nhập thời điện tử.
***
Tuổi cao còn trí tuệ,
Luôn nghĩ đủ 2 chiều
Cố gắng nghĩ nhiều điều,
Thành tâm góp xây dựng
***
Huy hiệu 50 năm
Mơ ước tuổi 100,
Còn sức còn chiến đấu,
Trí tuệ vẫn đầu tầu.
***
Phải chăng đây lời hứa,
Trước cờ Đảng búa liềm,
Nhớ lời thể thiêng liêng.
Rực lửa giờ kết nạp.
***
Nguyễn Đức Thuần
6/1/ 1959- 6/1/1959
6/1/2009
18T1/1705 THNC
|

Ngày 5/5/2009: Nhận giải thưởng thi viết loại B của thành phố
(Không có giải nhất)


11/10/2010 nhận giái thi viết xuất sắc của quận Thanh Xuân

Quận uỷ Thanh Xuân tặng hoa cho các cá nhân
và tập thể
đạt giải cao thi viết về xây dựng Đảng năm
2010.
Nguyễn Đức Thuần đứng thứ 3 từ bên phải sang
bên trái.


1947 1953 1956
1959 1960 1962

1982 1985 1986
1989 1991 2000

2003 2004 2004
2005 2009 2010

2005 2009









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét